Sign Up

Browse

Một cộng 9 bằng mấy? ( 10 )

Have an account? Sign In Now

Sign In

Một cộng 9 bằng mấy? ( 10 )

Forgot Password?

Don't have account, Sign Up Here

Forgot Password

Lost your password? Please enter your email address. You will receive a link and will create a new password via email.

Have an account? Sign In Now

You must login to ask question.

Một cộng 9 bằng mấy? ( 10 )

Forgot Password?

Need An Account, Sign Up Here
Lời Giải 247 Logo Lời Giải 247 Logo
Sign InSign Up

Lời Giải 247

Lời Giải 247 Navigation

  • Hoá Học
  • Toán Học
  • Vật Lý
  • Toán Học
Search
Ask A Question

Mobile menu

Close
Ask a Question
  • Hoá Học
  • Toán Học
  • Vật Lý
  • Toán Học

Lời giải đáp cho hàng vạn thắc mắc của bạn!

Hãy giúp đỡ người khác giải quyết rắc rối, và rắc rối của bạn sẽ biến mất.

Create A New Account
Home/ Questions/Q 13441
Next
In Process
diep6543
diep6543

diep6543

  • 145 Questions
  • 187 Answers
  • 0 Best Answers
  • 1 Point
View Profile
  • 0
diep6543
Asked: 17 Tháng 11 , 20202020-11-17T21:34:00+00:00 2020-11-17T21:34:00+00:00In: Lớp 11, Ngữ Văn

Phân tích hình ảnh người phụ nữ VN thời xưa qua bài Tự Tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của trần tế Xương

  • 0

Phân tích hình ảnh người phụ nữ VN thời xưa qua bài Tự Tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của trần tế Xương

Lời giải tham khảo có thể có AI hỗ trợ và kiểm tra tự động, không mặc nhiên đã được chuyên gia duyệt. Quy trình biên tập · Ban biên tập

Báo sai lời giải

  • 1 1 Answer
  • 59 Views
  • 0 Followers
  • 0
Answer
Share
  • Facebook

    1 Answer

    • Voted
    • Oldest
    • Recent
    1. dungiz
      2020-11-17T21:34:00+00:00Added an answer on 17 Tháng 11 , 2020 at 9:34 chiều

      Hồ Xuân Hương một nữ sĩ đại tài của văn học Việt Nam, bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Các vần thơ của bà tập trung nói về người phụ nữ với sự ý thức cao độ về vẻ đẹp hình thức và nhân cách. Nhưng đằng sau những vần thơ ấy còn là nỗi đau thân phận bị rẻ rúng. Nỗi niềm đó được thể hiện trong rất nhiều bài thơ của bà và một trong những bài thơ đó không thể không nhắc đến bài Tự tình II.

      Văn bản nằm trong chùm thơ Tự tình gồm có ba bài. Cả ba bài đều thể hiện nhất quán nỗi tự thương mình trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi và khao khát hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt. Những vần thơ còn thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng.

      Trước hết thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn:

      Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

      Trơ cái hồng nhan với nước non.

      Chén rượu đưa hương say lại tỉnh

      Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

      Trong đêm khuya tĩnh mịch, các sự vật đều trở về trạng thái lặng thì tiếng trống “vắng vẳng” nghe càng trở nên da diết, dồn dập hơn, nó như thúc giục người phụ nữ về sự chảy trôi của thời gian, của thanh xuân. Câu thơ thứ hai diễn tả nỗi niềm trơ trọi, cô đơn của những người phụ nữ trong không gian quạnh hiu đó. Từ “trơ” được đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh hơn nữa vào thân phận bất hạnh của họ. Từ “hồng nhan” vốn được hiểu là người con gái xinh đẹp, có nhan sắc. Nhưng đến đầu thế kỉ XVIII chữ “hồng nhan” thường gắn liền với yếu tố “bạc mệnh”: để nói lên số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: “Rằng hồng nhan tự thuở xưa/ Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” hay “Hồng nhan quen thói má hồng đánh ghen”. Trong bài thơ này, Hồ Xuân Hương dùng từ “hồng nhan” với ý nghĩa hồng nhan bạc mệnh, diễn tả nỗi niềm chua xót trước thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Trong nỗi đau của kẻ hồng nhan bạc mệnh, nhân vật trữ tình tìm đến rượu để quên, đến trăng để bầu bạn nhưng chén rượu uống vào muốn say mà lại càng tỉnh, ngắm trăng lại càng nhận rõ thân phận bất hạnh của bản thân. Trăng sắp tàn mà vẫn khuyết, cũng như con người thanh xuân sắp qua mà tình duyên vẫn còn lận đận, lỡ dở.

      Bốn câu thơ đầu, khung cảnh nhuốm màu tâm trạng của nhân vật trữ tình, kết hợp với thủ pháp tương phản: một bên là con người cô đơn, nhỏ bé với một bên là không gian rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ (hồng nhan/ nước non), thờ gian đêm mênh mông, quạnh vắng, lạnh lùng với sự bé nhỏ của người phụ nữ (vầng trăng, trống canh); rượu không thể làm con người khuây khỏa, say lại tỉnh,… tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nổi bật sự cô đơn, buồn chán của nhân vật trữ tình – người phụ nữ.

      Không chỉ vậy, người phụ nữ còn ý thức về hạnh phúc và nỗi đau thân phận, ý thức về hạnh phúc ngày càng rời xa, nhân vật trữ tình có những phản ứng hết sức quyết liệt:

      Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

      Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

      Hai câu thơ thể hiện một sức sống mạnh mẽ, khỏe khoắn bằng những hình ảnh thơ hết sức độc đáo: rêu, đá. Rêu vốn là loài cây mềm mại, nhỏ bé nhưng dưới con mắt của tác giả những đám rêu tưởng nhỏ bé, yếu đuối đó lại “xiên ngang mặt đất” mà trỗi dậy tìm sự sống; hòn đá tưởng chừng như chỉ đứng bất động trước sự chảy trôi của thời gian lại có thể “đâm toạc chân mây”. Dưới con mắt của Hồ Xuân Hương tất cả các sự vật tưởng như bất động, không có sự sống lại được tác giả cấp cho sức sống tràn trề, mạnh mẽ. Nhưng không dừng lại ở đó hình ảnh những sự vật đó kết hợp với cụm từ “xiên ngang”, “đâm toạc” đã cho thấy sự bứt phá, không cam chịu số phận đau khổ, tủi hèn của nhân vật trữ tình. Đặt trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ khi người phụ nữ luôn được giáo dục với tinh thần cam chịu, nhẫn nhục, an phận thủ thường thì câu thơ mang nhiều ý nghĩa tích cực, tiến bộ. Người phụ nữ trong bài thơ không chấp nhận số phận mà bộc lộ niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc, mở ra khả năng đấu tranh để đạt được tình yêu hạnh phúc về cho chính mình. Ý thơ này thống nhất với những bài thơ khác trong chùm thơ Tự tình của bà: “Thân này đâu đã chịu già tom” – khát vọng tình yêu được thể hiện nhất quán.

      Nhưng trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”, câu thơ cất lên đầy ai oán chua xót. Trong một bài thơ khác Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” để cho thấy rõ hơn số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Tuổi xuân người con gái có được là bao nhiều, xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy. Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ – càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.

      Bằng khả năng điều khiển ngôn ngữ tài tình, Hồ Xuân Hương đã cho người đọc phần nào thấy được thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, tình yêu bị san sẻ, hạnh phúc không thể với đến. Nhưng đồng thời còn thấy được khát khao hạnh phúc mãnh liệt của họ. Qua những vần thơ đó Hồ Xuân Hương cũng lên án xã hội phong kiến đã kìm kẹp nhu cầu hạnh phúc chính đáng của con người.

      xong rồi

      • 0
      • Reply

    Bài tương tự

    • hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa qua hai bài tự tình 2 của hồ xuân hương và thương vợ của trần tế xương
    • Bài tập làm văn số 2 lớp 11 đề 2: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài “Bánh trôi nước”, “Tự tình…
    • Hình ảnh người phụ nữ VN thời xưa qua các bài “bánh trôi nước ” tự tình 2″ thương vợ “
    • Hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa qua các bài tự tình của hồ xuân hương và thương vợ của trần tế xương
    • Hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước, Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương và Thươ…
    • Cảm nhận của anh(chị) về hình tương của người phụ nữ trong hai bài thơ Tự tình 2 và Thương vợ. Qua đó hãy liê…
    Leave an answer

    Leave an answer
    Hủy

    Browse

    Sidebar

    Explore

    • Feed
    • Recent Questions
    • Most Answered
    • Answers
    • No Answers
    • Most Visited
    • Most Voted
    • Random

    © 2026 Loigiai247. All Rights Reserved
    With Love by loigiai247.com.

    Giới thiệu · Chính sách biên tập · Ban biên tập · Liên hệ